Lượt xem: 87
Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia- Lễ hội Nghinh Ông, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
Lễ hội Nghinh Ông tại ấp Cảng, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, thuộc loại hình lễ hội truyền thống, được người dân trong vùng thường gọi với các tên khác là lễ hội cúng Ông Nam Hải hay lễ hội Nghinh Ông Trần Đề. Lễ hội Nghinh Ông được thể hiện dưới nghi thức tế lễ ở tại lăng Ông Nam Hải và ngoài biển. Để bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng hồ sơ khoa học trình cấp thẩm quyền xem xét và đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL, ngày 29/01/2019 công nhận và đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề.

         Lễ hội Nghinh Ông là lễ cúng cá Ông của ngư dân các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ là lễ hội gắn liền với tín ngưỡng thờ cá Ông của cư dân vùng biển từ Thanh Hóa vào đến tận Kiên Giang. Hầu như ở các làng chài ven biển đều có lăng thờ cá Ông với những nghi thức cúng tế trang trọng bởi lẽ đây là vị thần bảo hộ cho nghề đi biển. Trong nhiều công trình nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thanh Lợi cho rằng nguồn gốc tín ngưỡng thờ cá Ông vốn của người Chămpa mà những lưu dân người Việt trên bước đường Nam tiến đã tiếp thu trong quá trình giao lưu văn hóa. Trong tâm thức của ngư dân, mỗi khi đi biển gặp sóng to, gió lớn thì họ sẽ cầu xin sự giúp đỡ của Ông. Dân gian vùng biển còn lưu truyền nhiều câu chuyện về sự linh nghiệm của Ông, vì vậy cá Ông được ngư dân tôn kính với nhiều tên gọi khác nhau như ông Nam Hải, ông Chuông, ông Khơi, ông Lớn, Ngài,… thậm chí còn được triều đình nhà Nguyễn sắc phong với các thần hiệu như “Nam Hải Đại Nam tướng quân”, “Đông Hải cự tộc Ngọc lân tôn thần”,… 

         Theo truyền thuyết khi trời giông bão, mưa to gió lớn hay người đi biển gặp nạn khẩn cầu thì cá Ông đến nâng thuyền cứu hộ đưa vào bờ an toàn. Cho nên khi Ông lụy xác trôi dạt vào bờ thì ngư dân vớt lên làm tang. Sau 3 năm cải táng thì đem Ngọc Cốt - tức bộ xương của cá Ông vào đền thờ phụng. Do tập tục chọn ngày Ông lụỵ nên mỗi vùng, dân cư ven biển có ngày lễ Nghinh Ông khác nhau. Lễ Nghinh Ông được xem là lễ hội lớn nhất trong năm của ngư dân ven biển. Có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt Ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá “Ông”, lễ cúng “Ông”, lễ Nghinh “Ông”, lễ Nghinh Ông Thủy Tướng… Nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá “Ông” là sinh vật linh thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. 

         Tại Nam Bộ, hầu như các làng ven biển làm nghề cá đều có lăng thờ cá Ông. Theo thống kê của tác giả Phan Thị Yến Tuyết, Kiên Giang là địa bàn có nhiều lăng miếu cá Ông nhất. Vùng duyên hải tỉnh Sóc Trăng có ba lễ hội thờ cúng cá Ông tại các địa phương: huyện Cù Lao Dung; xã Vĩnh Châu, thị xã Vĩnh Châu; làng biển Kinh Ba, huyện Trần Đề, trong đó lễ hội cúng Ông Nam Hải ở huyện Trần Đề có quy mô khá lớn, thu hút sự tham gia của nhiều cư dân địa phương và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. 

         Theo các ngư dân huyện Trần Đề, lễ hội Nghinh Ông có từ năm 1955 tại Bãi Giá (trước đây thuộc xã Trung Bình, huyện Long Phú). Thời đấy, người dân đi biển phát hiện một xác cá Ông to lớn trôi dạt tại bờ kênh này. Dân địa phương đã vớt xác Ông vào bờ lập miếu thờ cúng bằng tre lá đơn sơ. Từ năm 1983 đến nay, ngư dân làng này làm ăn phát đạt nhanh chóng, sau đó di dời hài cốt Ông về Lăng Ông thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề. Dân làng đặt tên là lăng Ông Nam Hải, thành lập Ban quản trị và ông Trưởng vạn, có nhiệm vụ chăm sóc, bảo quản lăng Ông, thắp hương khói, thờ cúng hàng đêm. Hàng năm, cứ đến ngày 21 tháng 3 âm lịch, ngư dân làng biển Kinh Ba, huyện Trần Đề tổ chức lễ Nghinh Ông với ý nghĩa cầu cho trời yên biển lặng, ngư dân may mắn làm ăn phát đạt, mọi nguời, mọi nhà an khang, thịnh vuợng và cũng là thời điểm để bắt đầu một mùa biển mới. Lễ Nghinh Ông được xem là một trong những lễ nghi mang đậm tính truyền thống của ngư dân vùng biển. Có thể nói, lễ hội Nghinh Ông đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa trong đời sống tâm linh của người dân huyện Trần Đề, thể hiện niềm tin của ngư dân vào một vị thần luôn giúp ngư dân vượt qua những khó khăn, mang lại mùa thu hoạch thủy, hải sản bội thu.

         Hàng năm, vào sáng ngày 21/3 âm lịch, nhân dân vùng biển Kinh Ba, ấp Cảng, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề bắt đầu tổ chức lễ hội Nghinh Ông. Trước ngày thỉnh Ông, Ban trị sự lăng Ông Nam Hải tổ chức cuộc họp phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên. Ngày 21/3 là lễ rước kiệu ông ra biển, nghi thức rước Ông, cúng Tiên sư, cúng Tiền vãng, cúng Chánh tế. Đến ngày 22 và 23/3 âm lịch, bà con vạn chài trong tỉnh và các địa phương khác ở Cần Thơ, Trà Vinh… cũng tham dự, các hội đoàn đến thắp nhang cúng Ông và nghi lễ xây chầu, đại bội, tôn vương; các trò chơi dân gian,... 

         Nghi thức Nghinh Ông: Trước ngày lễ hội các thuyền đánh cá dù đang làm nghề ở xa hay gần, đều phải tề tựu về bến, tổ chức nghi thức tụng kinh cầu an vào lúc 11 giờ đêm tại lăng. Ông Chánh vạn và Phó vạn làm lễ khấn vái, xin chứng kiến của thần Nam Hải. Đúng 05 giờ sáng, ngày 21 tháng 3 âm lịch bắt đầu lễ Nghinh Ông. Nghi thức này được đông đảo dân vạn chài tham gia. Theo lệnh của Chánh vạn, đoàn người ra khơi Nghinh Ông. Dẫn đầu đoàn rước gồm có ông Chánh vạn, Phó vạn, tiếp theo là bốn người khiêng kiệu long đình, các lễ sinh, ban nhạc lễ, đoàn múa lân sư rồng. Bốn người khiêng kiệu long đình (trong kiệu gồm có ngọc cốt của Ông và các lễ vật) là những chàng trai khỏe mạnh chưa vợ, các lễ sinh mặc áo dài xanh, hai người mang cờ màu đỏ ở giữa thêu chữ Nam Hải màu vàng, hai người mang lọng màu đỏ, tám người cầm chấp kích và ban nhạc lễ. Đoàn rước tiến ra cửa sông để xuống một chiếc ghe riêng đã được chọn sẵn, gọi là ghe lễ. Chiếc ghe lớn được trang hoàng cờ hoa rực rỡ, có bàn thờ sắc thần. Đây là ghe của gia chủ làm ăn phát đạt, không có vướng mắc những điều xấu. Trên ghe bày bàn thờ có sắc thần, hai bên là nhang đèn, trước bàn thờ bày heo quay nguyên con nằm ngửa, bên cạnh là một đĩa đầy đủ cả gan, lòng heo và các lễ vật khác như xôi nếp, trái cây, nước uống, rượu, nhang, đèn. Trên ghe chính bao giờ cũng có một trống cái để điều khiển các nghi lễ. Sau ghe lễ là các ghe chở đoàn múa lân sư rồng và các ngư dân trong vạn. Trên các ghe này đều bày biện bàn thờ với các lễ vật tương tự như ghe lễ. Theo sau là hàng trăm chiếc tàu đánh cá của những ngư dân cùng nhân dân địa phương và du khách tham gia lễ hội. Đoàn rước tiến về cửa biển cách vạn chài khoảng 2 km thì dừng lại. Trên ghe, ông Chánh vạn đốt thêm nhang đèn tiến hành lễ Nghinh Ông. Vị Chánh vạn đứng ra khấn vái thỉnh mời ông Nam Hải, cầu cho mưa thuận gió hòa, ngư dân được mùa bội thu. Trong khi đó các lễ sinh dâng rượu và trầm hương. Sau khi cúng vái xong, ông Chánh vạn sẽ nguyện xin keo: Ông Chánh vạn phải xin keo như sau: “Mình tên họ gì, nhiêu tuổi, đại diện cho lăng ông Nam Hải cảng Trần Đề, nay trong ban hội thành tâm ủy thác cho tôi chịu trách nhiệm ra đây thỉnh Ông về để chúng con cúng bái. Sau đó đốt 3 cây nhang, lạy 3 lạy. Nếu Ông linh nghiệm cho con xin một keo, bắt đầu thảy cao lên và thành tâm vái nguyện”. Thủ tục xin keo gồm có: hai đồng xu; mỗi đồng xu đều một bên sơn đỏ, một bên để trắng. Sau khi vái xong ông Chánh vạn để đồng xu lên dĩa. Theo qui ước, sau khi thả đồng xu nếu cái trắng cái đỏ là Ông đã chứng giám, còn hai cái trắng, hai cái đỏ không được. Việc xin keo thành công có nghĩa là Ông đã chứng cho tấm lòng thành của ngư dân, sau đó, theo lệnh của Chánh vạn, các tàu quay vào bờ.  

         Đến bờ, đoàn nghi lễ sẽ diễu hành và hầu Ông về Lăng. Đúng 7 giờ 30, đoàn sẽ thực hiện các nghi thức rước Ông vào lăng rất trang trọng với phần nhạc lễ, múa lân và dâng lên Ông những sản vật mà ngư dân đã thu hoạch được. Khác với một số làng biển trong nước, cạnh bên lăng Ông còn có miếu thờ bà Thiên Hậu thể hiện lòng thành kính của ngư dân, mong Bà giúp đỡ người đi biển gặp nhiều may mắn. Vì vậy, sau khi thực hiện nghi thức Nghinh Ông, Ban tế lễ sẽ thực hiện nghi thức tại miếu Bà để thỉnh Bà về dự lễ tế Ông. Lễ vật trong đám rước có heo làm sạch để nguyên con, xôi, trái cây, hoa tươi và nhang đèn, vàng mã…

             Sau lễ Nghinh Ông là lễ cúng tế tiên sư và cúng tế tiền vãng. Thời gian cúng tế của hai lễ này từ 9 giờ 30 đến 12 giờ 30. Lễ vật gồm có xôi trắng và xôi màu đỏ hoặc tím, heo quay, bánh hỏi, rượu, hoa quả… Sau một hồi chiêng, một hồi trống ban nhạc lễ tấu nhạc, ông Chánh vạn và Phó vạn lau tay, mặt để thực hành các nghi lễ. Ông Chánh vạn đến trước bàn thờ đốt nhang khấn nguyện, các lễ sinh dâng rượu, trà, bánh trái lên bàn thờ thần, đọc văn tế tiên sư và các vị tiền vãng. Văn tế có nội dung: “Mời các vị thần đến chứng lễ; ca ngợi công đức của thần, sau đó tỏ lòng tri ân của dân làng đối với thần và cầu xin thần bảo hộ cho thôn dân được yên vui thịnh vượng”. Đọc văn tế xong, lễ sinh dâng một tuần rượu, một tuần trà lần hai rồi đốt văn tế cùng vàng mã. Diễn trình của nghi thức này cơ bản giống như lễ tế tiền hiền, hậu hiền của lễ cúng Ông Nam Hải ở một số địa phương ven biển khác.

           Lễ Chánh tế được tiến hành vào lúc 13 giờ 30. Lễ vật cúng tế có heo sống đã mổ thịt đặt nằm sấp trên bàn, các mâm xôi đủ màu, cùng hoa quả, bánh ngọt… Trong lễ này ban tổ chức chọn một người lớn tuổi, có đức độ song toàn, được mọi người trong vạn kính trọng làm nhiệm vụ khai mõ. Sau các nghi thức như củ soát lễ vật, tựu vị, chỉnh y, mở đầu buổi chánh lễ là nghi thức khai mõ, kế đến là khai chiêng và khai trống. Các nhạc khí này đều được đánh theo hồi, theo nhịp đã được quy định. Khi nghi thức khai trống dứt là ban nhạc lễ vào nhịp. Phần lễ tế bắt đầu. Lễ sinh dâng hoa, nến cho ông Chánh vạn khấn vái cầu an cho dân làng. Sau đó ông thắp nhang lên bàn thờ. Tiếp theo là nghi thức dâng rượu, hương, trà, hoa quả. Nghi thức chánh tế trong lễ hội Nghinh Ông ở Trần Đề không có gì khác nhiều so với lễ hội cùng loại ở các địa phương khác.

             Ngày 22 và 23/3, bà con vạn chài, các đoàn hội đem lễ vật đến cúng Ông và tham gia các trò chơi dân gian và xem hát Bội. Buổi tối đầu tiên là nghi thức xây chầu. Trước khi xây chầu, các đào thài lạy trước điện thờ Ông Nam Hải. Người cầm chầu là ông Chánh tế. Xây chầu có nguồn gốc từ quan niệm dịch lý của Nho gia: “Thuận đạo trời, an đạo đất, hòa đạo người” (tam tài). Quan niệm này đã được dân gian hóa thành những lời ca cầu cho mưa thuận gió hòa, dân làng an khang thịnh vượng. Sau nghi lễ này là các vở diễn được dân vạn chài ưa thích như: Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, Xử án Bàng Quý Phi, Phụng Nghi Đình, San Hậu thành. San Hậu thành được diễn vào đêm cuối của lễ hội. Tuồng này, hồi thứ ba có màn hoàng tử được dâng ấn kiếm lên ngôi vua và được các quan tôn vương, còn gọi là lễ tôn vương.

         Nhìn chung, các trò chơi trong lễ hội nghinh Ông thường gắn với tập tục làm ăn sinh sống của những người đi biển. Nó mang ý nghĩa đề cao tính nghề nghiệp, đồng thời cũng là để người dân giải trí. Trong khi đó, xây chầu, đại bội, tôn vương lại có tính chất lễ nghi được nghệ thuật hóa. Cho nên các đào thài và người cầm chầu phải thực hiện rất cẩn trọng. Trong thực tế, những thủ tục này đã được giản lược đi, nhưng không phải thế mà mất đi tính quy phạm - linh thiêng của nó.

         Lễ hội Nghinh Ông từ lâu đã có một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân, là sinh hoạt văn hóa dân gian không thể thiếu của nhân dân ở mọi vùng quê. Đây là ngày hội mang giá trị tâm linh của đời sống xã hội và văn hoá của cộng đồng, là nơi người dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hoá, thỏa mãn khát vọng trở về nguồn cội. Ngô Đức Thịnh đã nêu lên 5 giá trị truyền thống của lễ hội cổ truyền mà theo ông còn đáp ứng được nhu cầu của đời sống hiện đạị. Đó là các giá trị: Cố kết cộng đồng; hướng về cội nguồn; cân bằng đời sống tâm linh; sáng tạo và hưởng thụ văn hoá; bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Vì thế, lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. 

         Ngày nay, Lễ hội Nghinh Ông thị trấn Trần Đề không chỉ đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng, vui chơi giải trí mà nó còn là dịp để những người trong cộng đồng gần gũi. Các nghi thức tế tự và các trò diễn đã làm cho mọi người xích lại gần nhau, gắn bó tình cảm cộng đồng với nhau. Vì vậy, những cách biệt xã hội, những mâu thuẫn căng thẳng hay xích mích ngày thường nhiều lúc cũng được xóa nhòa trong lễ hội. Có thể nói, tính cộng đồng trong lễ hội là sợi dây liên kết mọi người trong hành động thống nhất, cùng thờ cúng chung một vị thần linh và cùng chung vui trong những trò diễn.   

         Mặt khác trong lễ hội Nghinh Ông thị trấn Trần Đề, các hoạt động vui chơi giải trí, biểu diễn văn nghệ, hát bội, trò chơi dân gian,... là sự phản ảnh nhu cầu sinh hoạt hưởng thụ văn hóa nghệ thuật. Lễ hội không chỉ là môi trường cộng cảm gắn kết cộng đồng mà nó còn là nơi để nhiều giá trị văn hóa được bảo lưu và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lễ hội nghinh Ông đã bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Đó là tục thờ cá Ông, tưởng nhớ những người có công khai khẩn vùng đất, tổ chức trò chơi dân gian để gắn kết cộng đồng. Tại lễ hội, con người cầu xin thần linh ban cho những điều tốt lành và họ an lòng trở về cuộc sống đời thường với bao khó khăn vì họ tin rằng sẽ có thần linh phù hộ. Cho nên, lễ hội Nghinh Ông trấn Trần Đề còn có chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của cả cộng đồng.

         Ngoài ra, Lễ hội Nghinh Ông không chỉ bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn góp phần kích thích sự phát triển kinh tế thông qua thu hút khách du lịch. Khai thác tiềm năng lễ hội sẽ làm phong phú, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng tính hấp dẫn du khách, tham gia hoạt động của các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng ở huyện Trần Đề. Để bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng hồ sơ khoa học trình cấp thẩm quyền xem xét và đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL, ngày 29/01/2019 công nhận và đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để huyện Trần Đề phối hợp với các ngành chức năng tiến hành công tác kiểm kê, nghiên cứu, đánh giá khoa học về thực trạng bảo tồn cũng như những đặc trưng, giá trị độc đáo riêng của lễ hội, định hướng phát huy, mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng cho lễ hội. 

         Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND huyện Trần Đề chỉ đạo các đơn vị chuyên môn tham mưu nghiên cứu, xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề. Nhằm đưa lễ hội Nghinh Ông vào quy hoạch phát triển văn hóa, tổ chức lễ hội một cách bài bản hơn. Tuyên truyền, giới thiệu về lễ hội Nghinh Ông để khai thác du lịch, xây dựng chương trình quảng bá bản sắc văn hóa, tiềm năng kinh tế biển huyện Trần Đề trong gắn với phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái trong tương lai./.

Một số hình ảnh lễ hội:(nguồn Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng)


* Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Chí Bền (1997), Tìm hiểu một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Đoàn Thị Cảnh (2016), Hát Bội trong lễ hội Nam Bộ xưa và nay, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 380, tháng 2 - 2016.
3. Trương Thanh Hùng, Phan Đình Độ (2012), Văn hóa dân gian huyện đảo Phú Quốc và Lý Sơn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. .
4. Nguyễn Xuân Hồng (2009), Lễ hội cúng Ông ở Kinh Cùng Sóc Trăng, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 298, tháng 4 - 2009
5. Nguyễn Thanh Lợi (2004), Tục thờ Cá Ông ở Nam Bộ, Nam Bộ đất và người, tập 2, Nxb Trẻ.
6. Nguyễn Thanh Lợi (2014), Một góc nhìn về văn hóa biển, Nxb Tổng hợp TP. HCM. 
7. Lâm Nhân - Trần Văn Út (chủ biên) (2016), Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Sóc Trăng, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
8. Phan Thị Yến Tuyết (2014), Đời sống xã hội - kinh tế văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc Gia TP. Hồi Chí Minh
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2012), Địa chí tỉnh Sóc Trăng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 
10. http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/255/0/5044/Le_hoi_Nghinh_Ong huyen_Tran_De_Tinh_Soc_Trang.
11. https://tuyengiao.soctrang.gov.vn/bantuyengiao/1281/30600/54149/277529/Net-dep-van-hoa/Le-Nghinh-Ong-huyen-Tran-De-nam-2018.aspx.
12. UBND huyện Trần Đề, 2020: Đề án bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn phi vật thể quốc gia: Nghệ thuật sân khấu Rô Băm của người Khmer tỉnh Sóc Trăng và Lễ hội Nghinh Ông huyện Trần Đề.

Nguyễn Văn Dũng - biên tập

 

 


video
  • Hòa Tú thân thương (21/09/2021)
  • Đêm trắng đất Châu Thành (13/09/2021)
1 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 5
  • Hôm nay: 394
  • Trong tuần: 3 245
  • Tất cả: 93300
Cơ quan chủ quản: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng
Địa chỉ liên hệ: 50 Lê Duẩn, TP. Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng 
Điện thoại: (02993) 821704 Fax: (02993) 825702 Email: websitesovhttdlsoctrang@yahoo.com.vn
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet
Số: 03/GP-TTĐT ngày 13/01/2010 do Cục quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông cấp
@ Ghi rõ nguồn "Cổng thông tin điện tử Sở VHTTDL tỉnh Sóc Trăng" khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin này.